Sunday, September 29, 2013
Bị biến thành thằng hèn
Bị biến thành thằng hèn
1.- Làm thằng hèn của nước Mỹ
Trong một buổi thuyết trình tại Câu Lạc Bộ Báo Chí New York. ký giả John Swinton, cựu chủ nhiệm của tờ báo nổi tiếng nhất ở Mỹ, đó là tờ New York Times, đã nói:
“Không phải một trong các qúy vị dám viết những ý kiến trung thực của mình, và nếu qúy vị có viết, qúy vị phải biết trước rằng nó sẽ không bao giờ được in ra. Hàng tuần, tôi đã được trả tiền để bỏ đi ý kiến trung thực của tôi ra khỏi tờ báo mà tôi có quan hệ”.
(There is not one of you who dares to write your honest opinions, and if you did, you know beforehand that it would never appear in print. I am paid weekly for keeping my honest opinion out of the paper I am connected with).
Ở nước Mỹ này, cũng có những điều “cấm kỵ” mà các thế lực tư bản đứng đàng sau hậu trường không muốn những cơ quan truyền thông lớn nói lên vì phương hại đến quyền lợi của họ. Có rất nhiều cơ quan tuyên truyền lớn ở Mỹ là công cụ của họ, được lập ra để phục vụ quyền lợi của họ. Cứ nhìn lại những chiến dịch mà báo chí Mỹ đã làm khi tập đoàn tư bản Mỹ muốn đưa quân vào Việt Nam và rút quân ra khỏi Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó. Trong cuộc chiến tranh Iraq, hành động này đã được lặp lại. Hôm 16/7, Paul Krugman, bình luận gia của tờ New York Times, đã viết trong mục Diễn Đàn Thông Tin Quốc Tế rằng, đã có một kế hoạch cố tình làm sai lệch các thông tin tình báo nhằm phục vụ cho chiến tranh Iraq. Trong những trường hợp này, nhiều ký giả, bình luận gia và cơ quan truyền thông của Mỹ đã bị biến thành những “thằng hèn”.
2.- Làm thằng hèn ở trong nước
Ở Việt Nam, thân phận của các nhà văn, nhà báo và nghệ sĩ bi thảm hơn, vì mạng sống và cuộc sống của họ cũng như gia đình bị gắn liền với “sứ mạng” đã được Đảng và Nhà nước giao phó. Làm khác đi là đời tàn. Ở Mỹ, những bình luận gia và ký giả nổi tiếng được trả tiền để đứng nói ra những ý kiến trung thực của mình, còn ở Việt Nam có ý kiến khác là không còn đường sống.
Ở trong nước hiện nay, Đảng CSVN có Ban Tư Tưởng – Văn Hoá Trung Ương Đảng lãnh đạo cách viết lách và trình diễn của những người làm văn hoá và văn nghệ. Trưởng Ban là một Ủy Viên Bộ Chính Trị, trước đây là Nguyễn Khoa Điềm, nay là Tô Huy Rứa. Nhưng người nắm quyền lực thật sự là Nguyễn Hồng Vinh, Phó Trưởng Ban, Ủy Viên Trung Ương Đảng. Đây là người nắm quyền sinh sát hệ thống truyền thông ở trong nước, quyết định ai vào chức vụ nào và cất chức ai.
Với cuốn “Hồi ký của một thằng hèn”, Tô Hải đã cho chúng ta biết khá tỉ mĩ cuộc sống tủi nhục của một kẻ làm văn hoá và văn nghệ trong chế độ cộng sản. Những sự cố gắng vùng dậy của nhiều người đã trở thành tuyệt vọng, nên hầu hết đành chấp nhận thân phận của những kẻ làm bồi bút, làm công cụ cho chế độ để được sống qua ngày, và đến cuối đời mới dám bộc lộ một vài tâm tư của mình, như trường hợp của Tô Hải và Chế Lan Viên.
Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20/10/1920, quê ở Cam Lộ, Quảng Trị. Sau 1954, ông nằm trong Ban Lãnh Đạo Hội Nhà Văn Việt Nam, là đại biểu Quốc Hội. Khi làm bồi bút, ông cũng đã làm nhiều bài thơ ca tụng đường lối của đảng và Hồ Chí Minh, chẳng hạn như:
Luận cương của Lênin theo Người về quê Việt
Biên giới còn xa. Nhưng Bác thấy đã đến rồi
Kìa! Bóng Bác đang hôn lên hòn đất
Lắng nghe trong màu hồng, hình đất nước phôi thai.
Nhưng trong những ngày cuối đời, sau khi chứng kiến những thực tế phủ phàng, ông đã làm những câu thơ rất đau xót:
Chung quanh bọn tham ô
Xây biệt thự lớn, nhỏ
Còn lên lớp cho thơ:
“Cần chịu đựng gian khổ” (!)
Sáng, ta viết ngoài sân
Nhờ cây cho bóng mát
Trưa, ăn cơm dưới thềm
Mồ hôi có gió quạt
Dầu vậy vẫn khoái trí
Được nhiều người cực hơn
Khen: “Anh mà còn thế,
Việc quái gì em buồn”.
Những câu thơ như thế đã nói lên thân phận thật sự của những “thằng hèn” ở trong nước.
Chế Lan Viên đã qua đời tại Tân Bình, Sài Gòn, ngày 19/06/1989 khi các chế độ cộng sản ở Đông Âu và Liên Sô đang trên đà sụp đổ.
3.- Làm thằng hèn trong cộng đồng người Việt hải ngoại
Ở hải ngoại, không có Ban Tư Tưởng – Văn Hoá Trung Ương để điều khiển các cơ quan truyền thông và các ký giả, nhưng một số người đã tự coi họ như là những “công an” chống Cộng, có nhiệm vụ thi hành công tác của ban này. Họ không có súng, không có dùi cui, không có lựu đạn cay, không có quyền bắt bớ ai… nhưng họ có một kho “nón cối” gần như vô tận. Họ có điện thoại, có truyền đơn, có email để phổ biến lệnh cấm và rải nón cối trên các diễn đàn Internet, có đài phát thanh Võ Cự Long muốn nói gì và nói bao lâu cũng được. Họ dọa lực lượng này lực lượng kia sẽ đến biểu tình mỗi khi báo chí hay ký giả không đi đúng “lề đường bên phải” mà họ đã tự ý vạch ra. Những áp này đã đẩy một số cơ quan truyền thông và đoàn thể đấu tranh chính trị đi vào ngõ cụt:
a) Hậu quả đối với các cơ quan truyền thông: Mọi bài viết hay bình luận về Việt Nam được viết hay đọc trên các cơ quan truyền thông của người Việt hải ngoại đều phải đi đúng “lề đường bên phải”. Nói khác đi là bị lên án “tay sai cộng sản”.
Ngoài ra, mỗi lần có biến cố gì xẩy ra, ít ai chịu nghiên cứu vấn đề để biết rõ đâu là sự thật. Đa số chỉ nhìn vào hiện tượng rồi đánh, nên thường đánh vào hư không, hay đánh chỉ để biểu dương khí thế, không cần kết quả.
Kinh nghiệm của 34 năm đấu tranh cho thấy lối tuyên truyền và “tác chiến” nói trên không có hiệu quả: (1) Độc giả nhiều khi chỉ nhìn cái đề hay đọc vài hàng đầu là biết tác giả muốn nói gì nên không đọc nữa. (2) Địch và đồng minh cũng chẳng quan tâm gì đến người Việt chống Cộng đang nói gì. Chỉ có các chính khứa cần lá phiếu là quan tâm, vuốt đuôi để kiếm phiếu.
Muốn “tác chiến” có hiệu quả, phải có tối thiểu hai điều kiện: Điều kiện thứ nhất là phải đánh trúng “huyệt”. Điều kiện thứ hai là tiếng nói phải được nhà cầm quyền trong nước quan tâm như tiếng nói của đài BBC hay RFA. Mình lớn giọng mà đối phương không đọc hay không nghe thì cũng chẳng ích lợi gì.
Chúng tôi nhớ lại vào tháng 6 vừa qua, khi cơ quan an ninh CSVN đưa ra nhiều bằng cớ chứng minh Luật sư Lê Công Định đã có những hành vi chống lại chính quyền nên đã bị bắt, trong đó có hai hành vi bị coi là nặng nhất, đó là đến Thái Lan họp với Đảng Việt Tân và nhóm Nguyễn Sĩ Bình để tổ chức lật đổ chính phủ. Chúng tôi đã mở cuộc điều tra và khám phá ra là hai cuộc họp này đều giả tạo do Công An và Cục Tình Báo Hải Ngoại dựng lên để gài bắt Lê Công Định. Đảng Việt Tân lên tiếng xác nhận họ không hề tổ chức một cuộc “huấn luyện” nào như thế.
Sau khi bài “Thủ đoạn chính trị” của chúng tôi đưa ra ánh sáng những sự bịp bợm này và được gởi về trong nước, nhà cầm quyền đã cho rút xuống khỏi các websites của họ tất cả những bài viết về Lê Công Định, chỉ giữ lại bài Lê Công Định nhận tội mà thôi!
b) Hậu quả đối với các cơ quan đấu tranh: Hiện nay, ở hải ngoại có rất nhiều đoàn thể đấu tranh, nhưng hầu hết chỉ là tổ chức khung. Chỉ còn hai đoàn thể cố tổ chức và có khả năng hoạt động, đó là Đảng Việt Tân và Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên của nhóm Nguyễn Gia Kiểng. Nhưng “Tập đoàn công an chống cộng” đang tìm cách vô hiệu hóa hoạt động của hai tổ chức này: Đảng Việt Tân làm gì cũng bị tố cáo là tay sai cộng sản, còn Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên bị cho là có chủ trương “hoà hợp hòa giải với cộng sản”. Vì thế, hai tổ chức này đang gặp khó khăn khi mở rộng hoạt động. Giải thích gì cũng vô ích.
Khi ông Nguyễn Gia Kiểng và một số anh em trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đến Washington tổ chức một cuộc họp để nói về đường lối của tập thể. Có người đã chất vấn tại sao không chào cờ. Ông Nguyễn Gia Kiểng giải thích đại khái rằng ông rất tôn trọng biểu tượng cờ vàng ba sọc đỏ của người Việt tỵ nạn, tuy nhiên tập thể của ông quy tụ nhiều thành phần chưa hề làm việc hay chiến đấu dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ hay công nhận lá cờ đó, nhưng họ muốn đứng chung với chúng ta để hợp lực trong việc giải thể chế độ cộng sản ở trong nước, Vì thế, không thể bắt họ phải chào cờ VNCH. Một số người bỏ phòng họp đi ra để phản đối, sau đó viết nhiều bài lên án.
Rõ ràng là có một số người có chủ trương bắt buộc mọi người phải công nhận biểu tượng cờ vàng ba sọc đỏ mới được phép chống Cộng. Chủ trương cực đoan này đã gây trở ngại rất lớn cho việc kết hợp trong ngoài để đấu tranh và thu hút các sinh viên Việt Nam du học muốn đấu tranh đến với chúng ta. Trong khi đó, Cục Tình Báo Hải Ngoại của CSVN đã cho thành lập một số tổ chức tranh đấu giả rồi dụ các thành phần này vào và bắt. Trường hợp Lê Công Định và Nguyễn Tiến Trung là những thí dụ điển hình.
Ngày nay, sự khủng bố các cơ quan truyền thông và ký giả của “Tập đoàn công an chống cộng” gần như không còn hiệu quả nữa. Bằng chứng cụ thể là cuộc biểu tình trước báo Người Việt kéo dài cả năm dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng chẳng đem lại kết quả gì. Nhưng nhiều cơ quan truyền thông và ký giả vẫn còn “SỢ”, tiếp tục đi theo đường cũ.
“CÀNG KHỦNG BỐ CÀNG LÀM XẤU MẶT NHÀ NƯỚC”
“CÀNG KHỦNG BỐ CÀNG LÀM XẤU MẶT NHÀ NƯỚC”
Đào Tiến Thi
“Nếu năm 2011 và 2012 là năm diễn ra các hành động đàn áp biểu tình chống xâm lược Trung Cộng thì năm 2013 (hiện đã đi qua ¾ năm) là năm đàn áp khốc liệt các blogger và các tù chính trị (cũng chủ yếu là các blogger tích cực chống Trung Cộng). Chưa kể các vụ đàn áp đồng bào Công giáo và đàn áp nông dân trong các vụ cưỡng chế đất vẫn tiếp tục diễn ra.
Sự khủng bố các blogger không những tăng nhanh về số lượng mà còn diễn ra rất tuỳ tiện. Ngoài việc bỏ tù, bắt tạm giam, cản trở đời sống thường nhật, thì xu hướng khủng bố bằng bạo lực ngày càng gia tăng. Vụ việc xảy ra tại nhà anh Nguyễn Tường Thuỵ và tại sân bay Nội Bài hôm 25-9-2013 cách đây vài hôm là một thí dụ điển hình. Điển hình về các hành động dã man; đặc biệt, điển hình về sự chà đạp lên luật pháp và đạo lý một cách trắng trợn và thô bỉ. Theo tường thuật của các nhân chứng trong chuỗi bài Vụ án Thanh Trì:
- Phương Uyên bị đánh dã man
- Chuyện của bé Thuỵ Châu
- Chúng tôi không nói chuyện luật pháp với chị
- Chân dung kẻ sàm sỡ với Phương Uyên
Thì chúng ta có thể hình dung sự việc như sau:
Tối ngày 25-9-2013, tại nhà riêng blogger, nhà văn, nhà báo Nguyễn Tường Thuỵ lực lượng công an và dân phòng, không một tờ lệnh, đã phá cửa xông thẳng vào nhà để bắt toàn bộ số người có mặt. Tổng số người bị bắt tới 10 người, bao gồm toàn bộ gia đình anh Nguyễn Tường Thuỵ (3 người) và 7 người khách của anh, trong đó có cháu Phương Uyên, chị Nhung (mẹ cháu Uyên), chị Dương Thị Tân (vợ tù nhân Nguyễn Văn Hải), anh Lê Quốc Quyết (em trai LS. Lê Quốc Quân, người đang bị tạm giam, sắp xét xử), anh Phạm Bá Hải (cựu tù nhân lương tâm vừa ra tù). Hai mẹ con chị Nhung còn bị cướp tư trang (khi về đến nhà họ mới trả). Trong khoảng thời gian các thành viên gia đình anh Nguyễn Tượng Thuỵ bị bắt giữ, ngôi nhà của anh hoàn toàn bị lực lượng công an và dân phòng khống chế. Con gái anh Thuỵ từ nhà bố mẹ chồng nghe tin gia biến vội chạy đến thì bị những người nhà nước (không sắc phục, không biển hiệu, không giấy tờ) tuôn ra những lời vô văn hoá. Và đặc biệt một người tự xưng là công an huyện dám ngang nhiên thách thức: “Chúng tôi không nói chuyện luật pháp với chị”. Một người nhà nước đến một gia đình không quen biết để thực thi một công vụ là bắt người và “lập biên bản hành chính” thì chắc chắn không phải là việc tình cảm, việc quan hệ cá nhân rồi. Cho nên hàm ngôn của câu trên được hiểu là: Chúng tôi chỉ nói chuyện bằng bạo lực, bằng luật rừng thôi.
Sự việc diễn ra tại nhà anh Nguyễn Tường Thuỵ đêm 25-9-2013 khiến ta nhớ đến hình ảnh sai nha đến cướp phá gia đình Thuý Kiều:
Người nách thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
Chỉ khác ở chỗ: Truyện Kiều của Nguyễn Du là câu chuyện hư cấu, còn chuyện nhà anh Nguyễn Tường Thuỵ là chuyện có thật, diễn ra ngay ở thiên đường XHCN.
Điều khủng khiếp hơn cả những gì diễn ra ở nhà anh Thuỵ là cảnh lôi kéo, đánh đập cháu Phương Uyên tại sân bay Nội Bài.
Theo kế hoạch, tối ngày 25-9, hai mẹ con chị Nhung chia tay gia đình anh Nguyễn Tường Thuỵ và mấy người bạn miền Bắc để ra sân bay Nội Bài về quê ngay đêm hôm đó. Nhưng chưa kịp ăn tối thì công an và dân phòng đã đến bắt đi. Trước khi ra sân bay, họ đưa hai mẹ con chị Nhung vào đồn công an Đại Áng để doạ dẫm và cháu Uyên còn bị đánh. Vì căng thẳng, đói, mệt, rét (lúc bị lôi kéo từ nhà anh Thuỵ ra xe, bị ướt vì trời mưa to) nên khi đến sân bay Nội Bài, chị Nhung bị ngất rồi bị sốt. Vì vậy, an ninh hàng không Nội Bài không dám cho lên máy bay, phải chờ đến chuyến bay ngày hôm sau. Trong thời gian đó, cháu Uyên tiếp tục bị hành hung. Anh em bạn bè ở Hà Nội đem đồ ăn uống đến cứu trợ nhưng không được gặp. Trái lại, họ nghe thấy tiếng kêu khóc của cháu Uyên từ trong buồng giam vọng ra. Theo lời kể của cháu Uyên, có một nhân viên an ninh còn lợi dụng việc tra tấn trong phòng kín (trong lúc mẹ cháu ngất) để thực hiện một hành vi thô bỉ với cháu. Đặc biệt, trong khoảnh khắc cháu Uyên thoát được ra ngoài thì một lực lượng đông đảo mặc sắc phục xông vào hành hung cháu rất dã man (xem clip). Và ngày hôm sau khi về đến quê thì, theo lời kể của chị Nhung, có hàng trăm nhân viên công an, an ninh bao vây, dẫn độ từ cửa xe ô tô vào nhà.
Cuộc hành hung hai mẹ con cháu Uyên và gia đình anh Nguyễn Tường Thuỵ quả là một vụ không nhỏ. Nếu chỉ để cưỡng bức (trái phép) cháu Uyên về quê thì không cần làm to chuyện đến như vậy. Phải chăng vì thừa biết hành vi này là sai trái nên chính quyền phải huy động một lực lược gấp hàng chục lần mức cần thiết? Và phải chăng nhân cuộc dẫn độ này mà thực hiện bắn “một mũi tên trúng nhiều đích”? Nó như là một sự cay cú, một sự trả thù, hăm doạ đối với tất cả những công dân đang đấu tranh để dân chủ hoá đất nước và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Tuy không giết chết ai nhưng nó chà đạp lên luật pháp và đạo lý một cách trắng trợn và thô bỉ. Nó thể hiện tính có hệ thống của hành động (có chỉ huy, có chủ đích, có phối hợp) chứ không phải sự bột phát do những nhân viên thừa hành.
Theo nhận định của chúng tôi, trong hoàn cảnh như hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể cứ một mực khước từ các giá trị của nhân loại tiến bộ được. Các động thái gần đây của các nhà lãnh đạo cho thấy họ cũng đang cố nhích lại với thế giới dân chủ phương Tây (Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu). Đó là một động thái tích cực. Chắc họ cũng hiểu rằng nếu chỉ đi với Trung Cộng thì chỉ tạo điều kiện cho Trung Cộng càng bóp họ mạnh hơn. Trước mắt, nhà nước Việt Nam đang cần tham gia Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp Quốc và Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nhưng muốn tham gia các tổ chức này, nhà nước Việt Nam phải thực thi những điều khoản nhất định về quyền con người, phải có những điều kiện tối thiểu của một nền kinh tế – xã hội lành mạnh. Ấy thế mà họ lại hành xử với đồng bào mình một cách ngược lại.
Không biết từ bao giờ, trong dân gian có câu ca dao hài hước:
Anh yêu em từ chân tới cổ
Còn cái đầu vứt bỏ nó đi.
Đảng Cộng sản và Chính phủ Việt Nam ứng xử với thế giới dân chủ phương Tây cũng vậy. Họ chỉ muốn cái nửa này (viện trợ tài chính – công nghệ, hợp tác kinh tế, sự ủng hộ về chính trị trên các diễn đàn quốc tế) của thế giới dân chủ nhưng lại từ chối nửa kia của họ (tự do, bình đẳng, bác ái), trong khi các yếu tố ấy hợp thành một cơ thể thống nhất, trọn vẹn không thể tách rời.
Và điều quan trọng hơn, đối với nhân dân trong nước, các hành động khủng bố đã làm mất đi tính chính danh của chính quyền. Mục đích của các hành động khủng bố là làm cho nhân dân sợ hãi và khuất phục. Nhưng thực ra, nó luôn mang kết quả ngược lại. Trong lịch sử Đông Tây kim cổ, chưa có nhà nước nào tồn tại lâu dài nhờ khủng bố. Trái lại càng khủng bố càng chóng sụp đổ. Chỉ trong khoảng vài chục năm vừa qua nhân loại đã chứng kiến sự ra đi của các chế độ khủng bố: Polpot (Campuchia), Pinochet (Chile), Taliban (Afghanistan), Saddam Hussein (Iraq) và ngay vừa đây là một loạt các chế độ độc tài ở Bắc Phi. Còn trước đây chưa lâu, một chính quyền khủng bố khổng lồ là Hitler cũng sụp đổ thảm hại.
Những người bị khủng bố, đàn áp ở Việt Nam mấy năm qua, chưa thấy ai từ bỏ đấu tranh. Những người thân của họ, ban đầu có khi dửng dưng, đứng ngoài cuộc, nhưng rồi chính những sự khủng bố, đàn áp dã man mà họ chứng kiến, đã làm cho họ kiên quyết đứng về phía người thân để chống lại nhà cầm quyền. Hai người con anh Nguyễn Tường Thuỵ trước kia, theo tôi biết, hoàn toàn đứng ngoài các cuộc đấu tranh của bố. Nhưng từ nay chắc chắn họ sẽ thay đổi, có thể sẽ sát cánh cùng bố, trở thành những người đồng chí của bố.
Trong quá khứ, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ do Đảng Cộng sản Việt Nam làm nòng cốt đã từng có sức tập hợp nhân dân lớn vào bậc nhất trong lịch sử. Nhưng thật đáng tiếc, càng ngày với những việc làm bạo ngược, họ càng làm mất đi vị trí ấy. Mức độ suy giảm lòng tin chỉ trong mấy năm gần đây là cực kỳ nhanh chóng. Nguy cơ đối đầu giữa nhà nước và nhân dân ngày càng cao. Nhân bài viết này, chúng tôi cũng muốn gửi đến các nhà lãnh đạo đất nước hiện nay hãy tỉnh táo, không tiếp tục sa lầy vào con đường bạo lực. Hãy nhanh chóng dân chủ hoá đất nước. Trước hết hãy thượng tôn pháp luật, trừng trị những kẻ lợi dụng quyền lực để khủng bố nhân dân. Nếu không, nhà nước này sẽ bị cô lập cả trong lẫn ngoài, lâm vào tình trạng “tứ bề thọ địch” không lối thoát.”
http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/09/29/cang-khung-bo-cang-lam-xau-mat-nha-nuoc/
<Maul>
Người siêu giàu ở Việt Nam: Họ là ai?
Người siêu giàu ở Việt Nam: Họ là ai?
Một phúc trình về người siêu giàu ở Việt Nam với tài sản từ 30 triệu đôla trở lên mới được công bố trong bối cảnh Việt Nam có khả năng không đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.
Theo công ty tư vấn Wealth-X và ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), số người siêu giàu ở Việt Nam tăng lên 195 người trong năm 2012, với tổng tài sản ước tính là khoảng 20 tỷ đôla.
Ông David Friedman, Chủ tịch Wealth-X, cho VOA Việt Ngữ biết công ty ông thu thập các dữ liệu từ các nguồn mở mà bản thân công chúng có thể tiếp cận, rồi sau đó sử dụng cách thức riêng để đánh giá những thông tin về tài sản của những người siêu giàu.
Phúc trình cho hay, sự gia tăng số người siêu giàu ở Việt Nam đứng hàng thứ hai ở Đông Nam Á, chỉ sau Thái Lan, trong năm 2012. Năm 2011, Việt Nam chỉ có 170 triệu phú tiền đôla.
Trao đổi với VOA Việt Ngữ, Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh cho biết ông không ngạc nhiên.
“Trong khi kinh tế khó khăn thì một số người, do có những mối quan hệ và có thể tiếp cận được với các tài nguyên, họ vẫn tiếp tục giàu lên một cách nhanh chóng. Tôi nghĩ rằng xu thế đó hiện nay vẫn đang tiếp tục”.
Ông Friedman cho biết ông không thể tiết lộ công khai các cá nhân siêu giàu ở Việt Nam cũng như nghề nghiệp của họ vì những thông tin như vậy ‘chỉ cung cấp cho các khách hàng của công ty Wealth-X’.
Báo chí trong nước cũng đưa ra các phán đoán riêng về những người siêu giàu Việt Nam dựa trên các dữ liệu từ thị trường chứng khoán.
Đứng đầu trong danh sách của nhiều tờ báo là ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch tập đoàn Vingroup, tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam theo đánh giá của tạp chí Forbes.
Tiếp sau đó là ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai, người từng được tạp chí the World Street Journal đưa vào danh sách một trong 30 doanh nhân có ảnh hưởng nhất Đông Nam Á.
Trong khi đó, khi được hỏi những người siêu giàu ở Việt Nam có thể là ai, kinh tế gia Lê Đăng Doanh nói ông ‘không thể nói tên’ mà chỉ cho hay rằng đó là ‘những người có các mối quan hệ và được hưởng lợi rất nhiều từ những mối quan hệ đó’.
“Vì vậy cho nên là họ có thể khai thác tài nguyên, họ có thể khai thác gỗ, họ có thể giàu lên nhờ bán đất, hoặc họ cũng có thể giàu lên nhờ các lý do khác nữa. Điều ấy cho thấy thực tế rằng xã hội Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng lên”.
Ông Doanh cũng nói thêm rằng những người siêu giàu ở Việt Nam ‘không có người nào đóng góp gì mới về khoa học, công nghệ’.
“Những người giàu lên ở Việt Nam chủ yếu là nhờ đất, bất động sản, vì được hưởng lợi từ tài nguyên, và những đặc quyền, đặc lợi khác”.
Theo ông Friedman, trên toàn thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, phần lớn khối tài sản của các triệu phú là do các công ty tư nhân thuộc sở hữu của các gia đình tạo ra.
Chủ tịch công ty Wealth-X nói rằng đó là một trong các lý do giải thích vì sao tài sản của cá nhân siêu giàu ở Việt Nam vẫn tăng trong năm 2012 dù kinh tế không có dấu hiệu khởi sắc.
“Khi ta người ta có các công ty tư nhân do gia đình quản lý và những gia đình này am hiểu về những gì họ cần làm với nhiều nhiệt huyết thì kể cả khi nền kinh tế sút giảm và yếu kém, kinh doanh của họ vẫn phát triển, dẫn tới tài sản của các gia đình đó tăng. Ngoài ra, có thể có các lý do khác như hoạt động kinh doanh của họ dựa vào xuất khẩu nên nó không phụ thuộc vào tình hình kinh tế ở Việt Nam”.
Tại một cuộc hội thảo quốc tế đầu tuần này về kế hoạch kinh tế xã hội 5 năm của Việt Nam, phần lớn những người tham dự đều tỏ ra bi quan.
Các giới chức được trích lời nói rằng Việt Nam có khả năng không đạt được nhiều mục tiêu của kế hoạch 5 năm, dẫn đến nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia ở Đông Nam Á.
Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng nhiều người Việt Nam giàu lên nhờ gia đình.
“Mới đây, có hiện tượng một gia đình cho một đứa bé một tuổi làm chủ tịch hội đồng quản trị và có gia sản rất lớn. Đấy là một trong các điều mà chúng ta thấy rằng là người giàu lên ở Việt Nam khác với những người giàu lên trên thế giới như thế nào. Trên thế giới, người ta muốn giàu lên, người ta phải giỏi về quản trị hay người ta phải làm chủ về khoa học công nghệ, người ta phải đóng góp rất lớn về tiến bộ của cộng đồng. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, những người giàu lên ở Việt Nam là những người giàu lên vì đất”.
Ông Doanh cũng nhận định rằng những người siêu giàu ở Việt Nam hiện có vai trò rất quan trọng vì họ ‘nắm rất nhiều dự án’.
Nhưng chuyên gia này cho rằng cần phải thấy một thực tế là việc khai thác tài nguyên của một số triệu phú đã làm tổn hại nghiêm trọng tới môi trường.
Theo công ty tư vấn Wealth-X và ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), số người siêu giàu ở Việt Nam tăng lên 195 người trong năm 2012, với tổng tài sản ước tính là khoảng 20 tỷ đôla.
Ông David Friedman, Chủ tịch Wealth-X, cho VOA Việt Ngữ biết công ty ông thu thập các dữ liệu từ các nguồn mở mà bản thân công chúng có thể tiếp cận, rồi sau đó sử dụng cách thức riêng để đánh giá những thông tin về tài sản của những người siêu giàu.
Phúc trình cho hay, sự gia tăng số người siêu giàu ở Việt Nam đứng hàng thứ hai ở Đông Nam Á, chỉ sau Thái Lan, trong năm 2012. Năm 2011, Việt Nam chỉ có 170 triệu phú tiền đôla.
Trao đổi với VOA Việt Ngữ, Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh cho biết ông không ngạc nhiên.
“Trong khi kinh tế khó khăn thì một số người, do có những mối quan hệ và có thể tiếp cận được với các tài nguyên, họ vẫn tiếp tục giàu lên một cách nhanh chóng. Tôi nghĩ rằng xu thế đó hiện nay vẫn đang tiếp tục”.
Ông Friedman cho biết ông không thể tiết lộ công khai các cá nhân siêu giàu ở Việt Nam cũng như nghề nghiệp của họ vì những thông tin như vậy ‘chỉ cung cấp cho các khách hàng của công ty Wealth-X’.
Họ có thể khai thác tài nguyên, họ có thể khai thác gỗ, họ có thể giàu lên nhờ bán đất, hoặc họ cũng có thể giàu lên nhờ các lý do khác nữa. Điều ấy cho thấy thực tế rằng xã hội Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng lên...
Tiến sỹ Lê Ðăng Doanh.
Đứng đầu trong danh sách của nhiều tờ báo là ông Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch tập đoàn Vingroup, tỷ phú đôla đầu tiên của Việt Nam theo đánh giá của tạp chí Forbes.
Tiếp sau đó là ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch tập đoàn Hoàng Anh – Gia Lai, người từng được tạp chí the World Street Journal đưa vào danh sách một trong 30 doanh nhân có ảnh hưởng nhất Đông Nam Á.
Trong khi đó, khi được hỏi những người siêu giàu ở Việt Nam có thể là ai, kinh tế gia Lê Đăng Doanh nói ông ‘không thể nói tên’ mà chỉ cho hay rằng đó là ‘những người có các mối quan hệ và được hưởng lợi rất nhiều từ những mối quan hệ đó’.
“Vì vậy cho nên là họ có thể khai thác tài nguyên, họ có thể khai thác gỗ, họ có thể giàu lên nhờ bán đất, hoặc họ cũng có thể giàu lên nhờ các lý do khác nữa. Điều ấy cho thấy thực tế rằng xã hội Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng lên”.
Ông Doanh cũng nói thêm rằng những người siêu giàu ở Việt Nam ‘không có người nào đóng góp gì mới về khoa học, công nghệ’.
“Những người giàu lên ở Việt Nam chủ yếu là nhờ đất, bất động sản, vì được hưởng lợi từ tài nguyên, và những đặc quyền, đặc lợi khác”.
Theo ông Friedman, trên toàn thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, phần lớn khối tài sản của các triệu phú là do các công ty tư nhân thuộc sở hữu của các gia đình tạo ra.
Chủ tịch công ty Wealth-X nói rằng đó là một trong các lý do giải thích vì sao tài sản của cá nhân siêu giàu ở Việt Nam vẫn tăng trong năm 2012 dù kinh tế không có dấu hiệu khởi sắc.
“Khi ta người ta có các công ty tư nhân do gia đình quản lý và những gia đình này am hiểu về những gì họ cần làm với nhiều nhiệt huyết thì kể cả khi nền kinh tế sút giảm và yếu kém, kinh doanh của họ vẫn phát triển, dẫn tới tài sản của các gia đình đó tăng. Ngoài ra, có thể có các lý do khác như hoạt động kinh doanh của họ dựa vào xuất khẩu nên nó không phụ thuộc vào tình hình kinh tế ở Việt Nam”.
“Những người giàu lên ở Việt Nam chủ yếu là nhờ đất, bất động sản, vì được hưởng lợi từ tài nguyên, và những đặc quyền, đặc lợi khác”.
Ông Lê Ðăng Doanh.
Các giới chức được trích lời nói rằng Việt Nam có khả năng không đạt được nhiều mục tiêu của kế hoạch 5 năm, dẫn đến nguy cơ tụt hậu so với các quốc gia ở Đông Nam Á.
Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng nhiều người Việt Nam giàu lên nhờ gia đình.
“Mới đây, có hiện tượng một gia đình cho một đứa bé một tuổi làm chủ tịch hội đồng quản trị và có gia sản rất lớn. Đấy là một trong các điều mà chúng ta thấy rằng là người giàu lên ở Việt Nam khác với những người giàu lên trên thế giới như thế nào. Trên thế giới, người ta muốn giàu lên, người ta phải giỏi về quản trị hay người ta phải làm chủ về khoa học công nghệ, người ta phải đóng góp rất lớn về tiến bộ của cộng đồng. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, những người giàu lên ở Việt Nam là những người giàu lên vì đất”.
Ông Doanh cũng nhận định rằng những người siêu giàu ở Việt Nam hiện có vai trò rất quan trọng vì họ ‘nắm rất nhiều dự án’.
Nhưng chuyên gia này cho rằng cần phải thấy một thực tế là việc khai thác tài nguyên của một số triệu phú đã làm tổn hại nghiêm trọng tới môi trường.
__._,_.___
Do đâu tuổi trẻ ngày nay “bị bệnh nói dối” trầm kha như thế?
Do đâu tuổi trẻ ngày nay “bị bệnh nói dối” trầm kha như thế?
Phải trả lời được câu hỏi vì sao con cái chúng ta nói dối kinh khủng như vậy? Việc này cũng cần đến những nghiên cứu của các nhà khoa học, nhưng có thể thấy ngay một điều, lỗi là ở người lớn. Sự trung thực ở người lớn quá hiếm hoi và thay vào đó quá nhiều dối trá.
Lời tòa soạn: Báo Lao Động trong nước trong số báo 223 ra ngày thứ sáu 27 tháng 9, 2013 có đăng một bài viết dưới tựa đề “Khi người lớn không làm gương về sự trung thực”, nói về tình trạng nói dối đến mức báo động trong giới trẻ, sinh viên học sinh ngày nay. Rồi từ đó, bài viết cũng bàn đến nguyên nhân của tình trạng nói dối và quy kêát nguyên nhân của hiện trạng nói dối lan tràn hiện nay là từ người lớn, “Người lớn mà không trung thực thì làm sao con trẻ không nói dối?”
Ghi nhận “hiện tượng nói dối” của tuổi trẻ ngày nay từ “thói quen và mức nói dối của người lớn” cũng là một cách giải thích, nhưng có lẽ còn hời hợt và phiến diện. Chúng ta thử đặt thêm vài câu hỏi thì sẽ thấy nhiều hơn sự phức tạp của vấn đề: Vì sao bệnh nói dối trong thời gian qua trở nên phổ biến một cách đáng sợ trong giới người lớn, trong các công ty và trong các cơ quan chính phủ? Bệnh nói dối có nguyên nhân nào từ chính trị, chế độ và cung cách làm việc không? So với con người của các quốc gia khác thì tình trạng nói dối của người Việt là tăng hay giảm? Tăng hay giảm ở mức nào?...
Hiện tượng và nguyên nhân dẫn đến hiện tượng không đơn giản và đơn thuần như bài báo dưới đây, mà có lẽ vì những yếu tố khác mà người viết chưa dám nói đến.
Có người còn mạnh dạn cho rằng nói dối là một “căn bệnh trầm kha” của người Việt, và là một trong những đặc điểm của “người Việt xấu xí” hiện nay. Bạn nghĩ sao?
Khi người lớn không làm gương về sự trung thực
Một thông tin không phải quá bất ngờ, dù biết vậy nhưng buồn đến nát lòng. Con cái chúng ta nói dối cha mẹ đến nước này thì còn gì đạo lý?
Tỉ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp TH là 22%, cấp THCS là 50%, cấp THPT là 64%, sinh viên là 80% - GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hoá học lý luận và ứng dụng (Đại học Quốc gia TPHCM) - cho biết như vậy tại hội thảo “Thực trạng văn hoá học đường và nhu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học” diễn ra tại Đà Lạt ngày 24.9 vừa qua.
Đây không phải là con số đoán mò mà là kết quả từ công trình điều tra xã hội học. Cho nên sau khi thông tin này được công bố, nhiều ý kiến ở các diễn đàn cho rằng đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, cần phải nỗ lực để cứu lấy nhân cách con cái chúng ta và đó cũng là cứu lấy xã hội này.
Có quá nhiều mỹ từ để ca ngợi về xây dựng con người trong thời đại ngày nay. Nào là lớn lên dưới mái trường này, mái trường kia, nhưng rồi học sinh nói dối cha mẹ tăng theo cấp học như vậy đó. Với cha mẹ mà còn nói dối, thì còn chỗ nào nữa để trung thực.
Phải trả lời được câu hỏi vì sao con cái chúng ta nói dối kinh khủng như vậy? Việc này cũng cần đến những nghiên cứu của các nhà khoa học, nhưng có thể thấy ngay một điều, lỗi là ở người lớn. Sự trung thực ở người lớn quá hiếm hoi và thay vào đó quá nhiều dối trá.
Tuy ở lứa tuổi học sinh, nhưng các em hiểu được những gì mà người lớn làm, đúng hay sai, trung thực hay giả dối.
Người lớn đó có thể là cha mẹ hay những chân dung khác trong cộng đồng xã hội. Những quan chức tham nhũng, phá hoại là những chân dung điển hình của dối trá, gian lận, đạo đức giả. Các em gặp nhiều những gương mặt như vậy trên các phương tiện truyền thông.
Thế giới ngày càng rộng mở về thông tin, có những kiến thức các em được học đôi lúc lại không giống như những điều mà các em khám phá. Vậy sự thật nằm ở đâu, sự hoài nghi và nhu cầu tìm kiếm sự thật dẫn đến việc phát hiện ra sự dối trá. Hậu quả của nó thật khôn lường.
Mà có phải các em nói dối đâu nhỉ? Nếu như làm cuộc điều tra xã hội học đối với người “sau sinh viên”, có lẽ tỉ lệ nói dối còn cao hơn sinh viên. Ví dụ vài chuyện thôi, 99% số công chức hoàn thành nhiệm vụ (?), Đồ Sơn không có gái mại dâm(?) và nhiều con số khác nữa.
Đến mức, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan phải thốt lên: “Tôi không dám tin số liệu thống kê”. Còn Trưởng ban Kinh tế Trung ương Vương Đình Huệ thì hoài nghi báo cáo tăng trưởng rằng: “GDP các tỉnh tăng mạnh mà cả nước chỉ 5,5%, không biết GDP chạy đi đâu?”.
Người lớn mà không trung thực thì làm sao con trẻ không nói dối!
(Source và ảnh: báo Lao Động)
Subscribe to:
Posts (Atom)
