Sunday, March 8, 2015

Thơ chửi hiện đại Thời XHCN !!!

Nói về thơ là nói về một đề tài bất tận. Thơ là tinh hoa của văn chương. Thơ lại chia ra nhiều trường phái thể loại, cho nên đề tài rộng lớn này không thể đề cập trong một vài bài viết. Ở đây trong khuôn khổ hạn hẹp này người viết chỉ muốn giới thiệu một loại thơ: Đó là thơ chửi, mà là thơ chửi hiện đại, không phải chửi cho đã miệng sướng mồm.

Cho tới nay chưa có một bài viết hay một văn bản xác quyết được là thơ chửi xuất hiện từ thời nào và ai là tổ sư nhưng có một điều chắc chắn là thơ chửi đã song hành với chúng ta cùng theo giòng đời từ lâu lắm. Xa thì không biết chứ gần chúng ta nhất phải kể đến nhà thơ Tú Xương. Ông có thể được xếp vào bậc đại sư cao thủ: Chửi đời, chửi thiên hạ sự thì có thơ trào phúng. Chán mình, đem chính mình ra diễu chơi thì có thơ tự trào.

Ông tự họa chân dung của mình:

Vị Xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quịt
Thổ đỉ lại chơi lường

Chọc phá mấy tên khoác áo nhà tu buôn thần bán thánh cỡ như sư quốc doanh Minh Châu, Thanh Tứ, Quảng Liên, Trí Tịnh… ông viết:

Này nón tu lờ này mũ thâm
Đi đâu chẵng đội để ong châm
Tu hành, đâu phải là tu hú (1)
Bá ngọ con ong bé cái lầm.

Câu này người viết mong được chỉ giáo.

Từ sau nhà thơ Tú Xương, không ít hậu bối vì ngưỡng mộ tài danh của ông nên đã theo gương tiếp nối. Các cao thủ thành danh có thể nêu tên như Tú Mỡ, Tú Nạc, Tú Đùm, Tú Kép. Có vị khăn đóng áo dài viết loại thơ chửi nhưng lại ký tên là ông Đồ như Đồ Gàn, Đồ Bỏ, Đồ Cổ. Có vị chơi trội hơn thì thay vì xưng Tú Tài lại xưng là Cử Nhân như Cử Tạ, Cử Nỡm. Gần đây nhất có thơ Bút Tre với cách gieo vần hay cách dùng chữ rất độc đáo. Tiếp nối Bút Tre là các tác giả như Bút Cùn, Bút Sắt, Bút Lông,... và rất nhiều nhà thơ vô danh khác.

Đây là vài câu theo thể thơ Bút Tre:

Hoan hô đồng chí Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về

hoặc

Bác Hồ cùng với Bác Tôn
Cả hai đều thích rờ “đầu” gái tơ.

Luật thơ lục bát thì chữ thứ sáu của câu sau phải cùng âm cùng vận với chữ chót của câu trước. Mở đầu truyện Kim Vân Kiều thi hào Nguyễn Du viết:

Trăm năm trong cõi người ta 
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Chữ “là” của câu sau phải cùng âm vận với chữ “ta” là chữ cuối của câu trước. Ở đây chữ “rờ” không thể đi với chữ “Tôn” được, đọc lên nghe chướng tai và tức anh ách. Vậy thì phải kiếm chữ mang âm “ôn” hay “ồn” thay vào chữ “đầu” cho xuôi tai đúng nghĩa. Cái đó là tùy thuộc vào sự tinh tế của người thưởng thức thơ Bút Tre, sao cho đúng điệu Bá Nha – Tử Kỳ.

Ngoài ra, cũng có những bài thơ và có những vần thơ không rõ tác giả vì tác giả chưa dám lộ tên hay không muốn lộ tên. Những bài thơ này như những phát thần công nhắm thẳng vào chế độ cùng những tên Cán Ngố.

Ngang lưng thì thắt phương châm
Đầu đội chính sách tay cầm chủ trương
Chân đi đôi dép lập trường
Đi hoài chẳng biết con đường đi đâu

Nhắc lại thời bao cấp, người dân bị bắt buộc vào hợp tác xã, mỗi năm được phân phối bốn thước vải nên đã có những câu thơ:

Đi làm hợp tác hợp te
Không đủ miếng giẻ mà che cái l…
Bác Hồ với chả Bác Tôn 
Ở đâu thì đến xem l... chúng tao

hoặc:

Một năm bốn thước vải thô
Làm sao che kín Cụ Hồ em ơi

Vào thời kỳ sau 1975, hàng triệu người dân Việt Nam liều chết vượt biên vượt biển trốn chạy chế độ Cộng Sản, thây trôi đầy bể, xác chết đầy rừng. Tại Ấn Độ, trong một cuộc họp báo khi được hỏi về hiện tượng này thì tên Thủ Tướng Cộng Sản Phạm Văn Đồng đã trả lời: “Đó là thành phần rác rưởi cặn bã đĩ điếm của xã hội”. và Nguyễn Thiện Nhân, tên dùng bằng giả giữ chức Phó Thủ Tướng Cộng Sản Hà Nội, tuyên bố: “Đó là những kẻ cần phải bị treo cổ”.

Nhưng rồi khi cần đôla, Đảng đã quay ngược 180 đô, gọi những người vượt biên vượt biển là “Núm ruột ngàn xa của tổ quốc, không thể tách rời”. Bởi vậy trong dân gian xuất hiện những bài thơ hay những câu thơ chửi như sau: 

Ngày đi, Đảng gọi Việt gian
Ngày về Đảng lại chuyển sang Việt kiều
Chưa đi: phản động trăm chiều
Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng.
Trốn đi Đảng bắt đến cùng
Trở về mời gọi, săn lùng đô la
Đảng ta ân đức bao la
Là cụ thằng đểu, là cha thằng lừa...

Việt Minh, Việt Cộng, Việt Kiều,
Trong ba Việt ấy, Đảng yêu Việt nào?
Việt Minh thì tuổi đã cao!
Việt Cộng ốm yếu, xanh xao gầy còm!
Việt Kiều thì vẫn còn son.
Đảng yêu, đảng quý như con trong nhà!
Chỉ cần một ít Đô La
Việt Gian phản quốc hóa ra Việt Kiều! 

Khi Đảng ra nghị quyết bắt toàn dân học tập làm việc theo gương đạo đức của Hồ Chủ Tiệm thì trong dân gian lại có thơ lưu truyền chế diễu trò bất lương "ăn lường đụ" của Tặc Hồ, tức là trò chém vè “Hit And Run”.

Yêu em mấy núi cũng trèo
Khi em vác bụng mấy đèo cũng dông!
Bác là lãnh tụ chính tông
Lý lịch của bác: Lộn dòng, hoang thai
Lời bác văng vẳng bên tai
Bồ mà vác bụng “bái bai” tức thì
Cứ theo đường bác anh đi
Toàn đảng cùng bước... trách gì riêng anh.

Gần đây lại có những bài thơ dám ghi tên tác giả đường hoàng. Nhà thơ Trần Ngọc Thụ sau 30 năm đi làm cách miệng, lúc trở lại quê xưa đã phải ngậm ngùi thốt lên:

Con đường hàng tỉnh tôi đi
Ba mươi năm ấy có gì khác xưa?
Ông lão đánh trâu đì bừa
Là con ông lão... ngày xưa... đi cày(!)

Và đây là bài thơ mới nhất của Trần Vàng Sao, tên thật là Nguyễn Đính, một sinh viên cùng với Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan thuộc nhóm sinh viên tranh đấu đã lập đầu công trong việc sát hại hơn sáu ngàn người dân xứ Huế trong trận Mậu Thân 1968. Sau trận Mậu Thân, Trần Vàng Sao chạy vào bưng, khi bị bệnh đã được đưa ra Hà Nội chữa trị tại bệnh viện Bạch Mai.

Người viết chưa từng được đọc thơ của Trần Vàng Sao nhưng nhà báo Ngô Vương Toại, một lãnh tụ sinh viên chống cộng và từng bị nhóm sinh viên cộng sản Dương Văn Đầy bắn trọng thương tại sân trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, trong một lần đấu chuyện tại Phở Xe Lửa, cho biết Trần Vàng Sao có một số bài thơ khá hay.

Bài thơ này được đưa lên như là một chứng tích.

Tau Chịu Hết Nổi Rồi!

Trần Vàng Sao
(người chuyển bài: Ls Lê Trọng Quát)

Tau chưởi 
cho trập mả trập mồ
tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan
tau cũng có chân có tay
tau cũng có đầu có óc
có miệng có mắt
có ông bà
có cha mẹ
có vợ con có ngày sinh tháng đẻ
có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần
rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả
tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi
tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
bây ỉ thế ỉ thần
cậy nhà cao cửa rộng
cậy tiền rương bạc đống
bây ăn tai nói ngược
ăn hô nói thừa
đòn xóc nhọn hai đầu
ngậm máu phun người
bây bứng cây sống trồng cây chết
vu oan giá họa
giết người không gươm không dao
đang sống - bây giả đò chết
người chết - bây dựng đứng cho sống
bây sâu độc thiểm phước
bây thủ đoạn gian manh
bây là rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật - lúc bây giả
khi bây ẩn - khi bây hiện
lúc người - lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
lúc như thầy tu vào hạ
lúc như con nít đói bụng đòi ăn
hai con mắt bây đứng tròng
bây bắt hết mọi người trước khi chết phải hô
cha mẹ bây, ông nội ông ngoại bây, tiên sư cố tổ bây
sống dai đời đời kiếp kiếp
phải quỳ gối cúi đầu
nghe bây nói không được cãi
phải suốt đời làm người có tội
vạn đợi đội ơn bây
đứa nào không nghe - bây hớt mỏ chôn sống
thằng nào không sợ - bây vằm mặt thủ tiêu
bây làm cho mọi người tránh nhau
bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng
đồ phản động
đồ chống đối
đồ không đá bàn thờ tổ tiên
đồ không biết đốt chùa thiêu Phật
thượng tổ cô bà bây
mụ cô tam đợi mười đời bây
tau xanh xương mét máu
thân tàn ma dại
rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
mả ông bà cố tổ bây kết hết à
tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
bây ăn chi mà ăn đoản hậu
ăn quá dã man
bây ăn tươi nuốt sống
mà miệng không dính máu
người chết bây cũng không chừa
năm năm mười năm hai mươi năm
xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`
bây nhai, bây khới, bây mút
cả húp cả chan - bây còn kêu van xót ruột
bao nhiêu người chết - diều tha quạ rứt
xương khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây
hỡi cô hồn các đẳng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn, xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây
cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây !

Tau Đây: 
Trần Vàng Sao

Tên các hồ nổi tiếng nhất Việt Nam....

Rộng lớn nhất: hồ Ba Bể. Yên ổn nhất: hồ Trị An. Buồn tẻ nhất: hồ Than Thở. Chậm chạm nhất: hồ Con Rùa Thơm tho nhất: hồ Xuân Hương. Sính ngoại nhất: hồ Tây.
Sắc nhọn nhất: hồ Gươm Hữu nghị nhất: hồ Hòa Bình Nổi danh nhất: hồ Dầu Tiếng. Quậy nhất: hồ Lắc.
Nghiêm khắc nhất: hồ Cấm Sơn.
Bạc bẽo nhất: hồ Tam Bạc. Ướt át nhất: hồ Thủ Lệ. Thư thái nhất: hồ Thanh Nhàn.

Khốn nạn nhất: Hồ Chí Minh !

Lê Minh Khôi

 Yểm Trợ Liên Lạc
Freespeech4vietnam
2127 Cliff Road, Suite H
Eagan, Minnesota. 55122
email: freespeech4vietnam@gmail.com
612-986-4914 cell
612-567-1719 voice mail
408-634-9703 cell

Tuổi Trẻ Orlando 2015

Tôi Muốn Thấy Thằng CSVN !!!! Nghệ Lữ



Yểm Trợ Liên Lạc
Freespeech4vietnam
2127 Cliff Road, Suite H
Eagan, Minnesota. 55122
email: freespeech4vietnam@gmail.com
612-986-4914 cell
612-567-1719 voice mail
408-634-9703 cell


Saturday, March 7, 2015

LUẬT SƯ NGUYỄN VĂN ĐÀI BỊ ĐE DỌA - Radio DLSN 07032015



Hải Sơn xin kính chào quý thính giả, cám ơn quý vị đã giữ nguyên làn sóng để theo dõi buổi phát thanh hôm nay, Thứ Sáu ngày 07 tháng 03 năm 2015, và là buổi phát thanh lần thứ 1393 của đài ĐLSN.Trong phần Tin Tức, chúng tôi có những tin chính sau đây.

1. LUẬT SƯ NGUYỄN VĂN ĐÀI BỊ ĐE DỌA
2. HOA KỲ SẴN SÀNG GIÚP ĐỠ VIỆT NAM
3. THANH TRA VIỆT NAM BÁO CÁO THÀNH TÍCH KHÔNG NHẬN QUÀ TẾT
4. SRI LANKA ĐÌNH CHỈ DỰ ÁN HẢI CẢNG KHỔNG LỒ CỦA TRUNG CỘNG
5. TẤN CÔNG TẠI NHÀ GA QUẢNG CHÂU KHIẾN 10 NGƯỜI THƯƠNG VONG.
Chi tiết các bản tin nêu trên sẽ được Tâm Anh&Hướng Dương gởi đến quý thính giả để mở đầu chương trình.
Sau đó, trong tiết mục Thế Giới Tuần Qua , Ts. Lê Minh Nguyên sẽ đúc kết một số sự kiện quan trọng xảy ra trong tuần. Giữa chương trình, chuyên mục Những Vấn Đề Của Chúng Ta do Hải Nguyên điều hợp, tuần này tiếp tục với vị khách mời là Ls. Đào Tăng Dực, (thảo luận trở lại với) Bản Hiến Pháp Việt Nam Năm 2013. Sau đó như thường lệ, chương trình sẽ được kết thúc với chuyên mục Danh Nhân Nước Việt.

Đặc biệt chương trình phát thanh hôm nay được sự bảo trợ của Ông bà Bảy Thiện tại Tây Úc. 

Đồng thời để vinh danh ông Phan Văn Thu, một người Việt yêu nước đang bị giam cầm trong ngục tù cộng sản.
Với hệ thống AudioNow, chỉ cần bấm số 1(832)999-1124 quý thính giả có thể nghe đài ĐLSN qua điện thoại bất cứ lúc nào với giá của một cuộc gọi thông thường.
Mở đầu chương trình, mời quý thính giả theo dõi phần Tin Tức sẽ được Tâm Anh&Hướng Dương trình bày sau đây.

Yểm Trợ Liên Lạc
Freespeech4vietnam
2127 Cliff Road, Suite H
Eagan, Minnesota. 55122
email: freespeech4vietnam@gmail.com
612-986-4914 cell
612-567-1719 voice mail
408-634-9703 cell


Friday, March 6, 2015

Đôi Lời Với Tuổi Trẻ - Ngô Minh Hằng



Yểm Trợ Liên Lạc
Freespeech4vietnam
2127 Cliff Road, Suite H
Eagan, Minnesota. 55122
email: freespeech4vietnam@gmail.com
612-986-4914 cell
612-567-1719 voice mail
408-634-9703 cell



Đây Là Sự Thật- Những Người Quyết Tâm Ngu đảng viên CSVN- Radio DLSN 060...



Hải Sơn xin kính chào quý thính giả, cám ơn quý vị đã giữ nguyên làn sóng để theo dõi buổi phát thanh hôm nay, Thứ Sáu ngày 06 tháng 03 năm 2015, và là buổi phát thanh lần thứ 1392 của đài ĐLSN.Trong phần Tin Tức, chúng tôi có những tin chính sau đây.

1. CAO ỦY NHÂN QUYỀN LHQ QUAN NGẠI VỀ SỐ PHẬN 36 NGƯỜI THƯỢNG BỊ TRẢ VỀ VIỆT NAM
2. VIỆT NAM MUỐN MUA MỘT SỐ MÁY BAY DỌ THÁM KHÔNG NGƯỜI LÁI CỦA DO THÁI
3. LƯỢNG GẠO XUẤT CẢNG NĂM NAY SẼ THẤP HƠN NĂM NGOÁI
4. THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG ĐỒNG Ý VIỆC TĂNG GIÁ ĐIỆN THÊM 7.5%
5. ĐẠI SỨ MỸ Ở NAM HÀN BỊ CHÉM BẰNG DAO TẠI MỘT TRƯỜNG HỌC Ở SEOUL
6. GIÁM ĐỐC SỞ TÌNH BÁO QUÂN ĐỘI TRUNG CỘNG BỊ SA LƯỚI.
Chi tiết các bản tin nêu trên sẽ được Vân Khanh&Nguyên Khải gởi đến quý thính giả để mở đầu chương trình.
Sau đó, trong tiết mục Chuyện Nước Non Mình, Nguyễn Xuân Nghĩa nói về “những người quyết tâm ngu” trong hàng ngũ đảng CSVN. Giữa chương trình, qua chuyên mục Đây Là Sự Thật, Đặng Chí Hùng phân tích thái độ bao che cho nhau để cùng tham nhũng của đảng viên CSVN. Và sau cùng, chương trình sẽ được kết thúc với bài Quan Điểm của LLCQ.

Đặc biệt chương trình phát thanh hôm nay được sự bảo trợ (lần thứ 2) của Ls. Phan Quốc Cường tại Houston TX – Hoa Kỳ, trong danh sách “Lịch Vàng 365 Ngày, Năm 2015”.

Đồng thời để vinh danh ông Lê Thanh Tùng, một người Việt yêu nước đang bị giam cầm trong ngục tù cộng sản.

Yểm Trợ Liên Lạc
Freespeech4vietnam
2127 Cliff Road, Suite H
Eagan, Minnesota. 55122
email: freespeech4vietnam@gmail.com
612-986-4914 cell
612-567-1719 voice mail
408-634-9703 cell



30 Tháng Tư, niềm đau khôn nguôi

30 Tháng Tư, niềm đau khôn nguôi
(Bài viết cho mục Hồi Ức 30 tháng Tư và Đời Tị Nạn)
Sáng thứ sáu 25 tháng 4 năm 1975, khoảng 10 giờ, tôi đang ngồi làm việc thì chị giúp việc thân tín và con gái tôi lúc đó 11 tuổi, bước vào văn phòng tôi. Chị tới sát chỗ tôi ngồi, ghé tai tôi nói nhỏ:
- Thầy về nhà gấp, cô có chuyện muốn nói với thầy.
Tôi chỉ gật đầu và không muốn cho chị giúp việc nói thêm nữa, vì tôi đã biết vợ tôi muốn nói gì rồi. Trước đây, vợ tôi có làm việc ở phòng Điện toán của Hoa Kỳ tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Để tránh việc Việt cộng sẽ trả thù những người đã cộng tác với Mỹ, chính phủ Hoa Kỳ đã cho lập danh sách ưu tiên cho nhân viên làm sở Mỹ di tản bằng cầu không vận.
Hàng ngày, những tin tức chiến sự không mấy khả quan từ miền chiến tuyến gửi về làm nản lòng người lính ở hậu phương. Tại đơn vị tôi, lúc đó Đại tá Nguyễn Hữu Đ. tới nhậm chức Cục Trưởng Cục Mãi Dịch Quân Đội đúng vào lúc xế chiều của miền Nam. Tôi cũng nhận được nghị định thăng cấp thiếu tá, sau 5 năm mang cấp bậc đại úy vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến.
Tới văn phòng, từ sĩ quan cho tới anh em binh sĩ, ai cũng cầm tờ báo coi những tin tức nóng bỏng nơi trang nhất, bàn tán xì xào. Trong lòng mọi người, hầu như ai ai cũng bị dao động, không nhiều thì ít.
Dòng người di tản trước khi Sài Gòn thất thủ. (Hình: Getty Images)
Tôi vẫn làm công tác đi thanh tra và thâu nhận hàng tại các nhà kho của quân đội. Tôi đã thấy có một vài nhà thầu và giám đốc các công ty lớn lặng lẽ ôm tiền trốn ra ngoại quốc. Họ bỏ đi, và không thi hành khế ước. Mặc dầu đơn vị tôi đã gửi văn thư cảnh cáo sẽ áp dụng biện pháp chế tài, họ vẫn bất chấp và cứ tiếp tục bỏ nước ra đi.
Việc ra đi hay ở lại cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi sôi nổi giữa vợ chồng tôi trong suốt mấy tuần qua. Vợ tôi đã ghi tên gia đình vào danh sách di tản, và chúng tôi đã nhận được “manifest” xác nhận chờ ngày đi.
Là một quân nhân, tôi cảm thấy hổ thẹn khi chưa chiến đấu gì mà đã bỏ đồng đội, bỏ bạn bè, lén lút ra đi.
Tôi đã gay gắt nói với vợ tôi :
Mình cứ dẫn con đi trước. Tôi ở lại, một thân một mình, lúc nào đi chẳng được!
Vợ tôi vừa năn nỉ, vừa giận dỗi, dùng đủ mọi cách để thuyết phục tôi cùng với nàng và bốn đứa con đi một lượt :
- Anh nói dở hơi lắm ! Bao nhiêu người chạy chọt đủ mọi cách, để xin cho được một chỗ trong “manifest”. Họ sẵn sàng bỏ ra cả ngàn đô la để đổi lấy một chỗ di tản bằng máy bay ! Anh không biết anh may mắn hơn hàng trăm ngàn người sao ?
Tôi tần ngần :
- Nhưng em không thấy vợ chồng mình vất vả dành dụm mười mấy năm nay, mới mua được căn nhà nhỏ nầy. Sang đến Mỹ, anh không có nghề nghiệp gì chuyên môn, rồi mình lấy gì mà sống. Vợ tôi đau khổ ngắt lời tôi :
- Một cái nhà này, chứ cả chục cái nhà nữa cũng bỏ hết! Sang đến đó, còn cả ngàn người như mình nữa chứ. Cớ chi phải lo không có việc làm? Không làm việc này, thì làm việc nọ !
Tôi cố vớt vát :
- Em không thấy hôm rồi, tổng thống Thiệu vừa lên TV nói gì sao ? Chính ông ấy cũng ở lại, sát cánh với quân đội, cùng chiến đấu bảo vệ miền Nam mà !
Vợ tôi cười nhạt :
- Anh nói vậy, là anh không biết gì hết rồi. Con bạn đồng nghiệp của em lấy một sĩ quan Mỹ ở cơ quan DAO. Nó vừa ghé nhà mình thăm em. Nó nói chồng nó bảo sau bài diễn văn ấy, tổng thống Thiệu và gia đình được Mỹ đưa đi Đài Loan rồi !
Tôi cứ bán tín bán nghi. Tân thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn vừa ra nghị đinh dọa trừng phạt bất cứ công chức quân nhân nào rời nhiệm sở. Đồng thời. Thủ tướng Cẩn ra lệnh đặt các nút chặn gồm quân cảnh lẫn cảnh sát được dàn ra trên cửa ngõ vào phi trường Tân Sơn Nhất,
biên giới và dọc bờ duyên hải.
Suốt mười mấy năm chung sống, chưa lần nào chúng tôi bất đồng ý kiến trầm trọng như lần nầy. Vợ tôi bực mình phát khóc. Nàng tha thiết nói với tôi qua hàng nước mắt :
- Anh ở lại, lỡ tụi nó vào, tụi nó sẽ không tha anh đâu. Anh vừa có tội di cư năm 54, vừa là sĩ quan đã từng chống lại chúng! Anh đi với em và các con nhé. Một mình em ra đi, với một bầy con như thế, làm sao em xoay sở cho được! Cứ như thế, mấy đêm rồi, tôi không ngủ được tròn giấc bao giờ, vì những lời nói, tiếng khóc của vợ tôi cứ lẩn quẩn trong đầu óc tôi.
Trong khi đó, mấy nhân viên trong phòng tôi xúm lại chỗ con gái tôi. Họ đang thì thầm hỏi chuyện con bé. Thấy tôi đưa mắt nhìn, họ lảng đi chỗ khác. Tôi bảo chị giúp việc và con gái tôi đón xe xích lô máy về trước, và nói với vợ tôi cứ chờ ở nhà.
Tôi lặng người đi phía sau bàn giấy. Trong lòng đầy bâng khuâng, bối rối, tôi nhìn những nhân viên đã từng cộng tác với tôi trong vòng tám năm qua tại đơn vị nầy.
Phóng tầm mắt xa hơn, tôi nhìn về phía cây tùng bách tán. Không hiểu sao, tôi thấy cây tùng bỗng trở nên thân thiết như một người bạn!
Tôi lẩm bẩm một cách vô thức ;
- Tùng Bách Tán ơi! Ta sắp xa mi rồi !
Một nhân viên dân chính, bác T., được biệt phái tới làm việc ở phòng tôi từ ngày thành lập đơn vị. Bác với tôi thân thiết như người nhà. Bác T. thường tâm sự với tôi những chuyện riêng tư, và tôi cũng, đôi khi, chia sẻ với bác những ưu tư thời cuộc.
Đến sát bàn tôi, bác T. ngồi xuống, nhìn tôi. Chưa bao giờ tôi thấy khuôn mặt bác buồn rầu như vậy.
Bác T. chớp chớp mắt :
- Chắc bà xã của Thiếu tá cho người làm đến kêu Thiếu tá về đi Mỹ, có phải không ?
Hôm nay, ngay cả với bác T., người bạn già thân thiết nhất của tôi trong sở, tôi cũng không dám nói thật. Tôi trả lời vắn tắt, trong bụng tôi biết là bác cũng biết tôi nói dối :
- Tôi có chút việc nhà phải về gấp, xong việc có thể tôi trở lại sớm.
Rất may, trong giờ đó đa số nhân viên trong phòng tôi đã rủ nhau xuống Câu Lạc Bộ để giải khát. Chỉ còn tôi và người công chức già ngồi tâm sự. Một niềm xúc động mãnh liệt dâng tràn trong lòng tôi.
Trước khi ra về, tôi lấy chiếc chìa khóa ngăn kéo nơi bàn giấy, trong có để các hồ sơ và một số vật dụng cá nhân, đưa cho bác T.
Tôi nói :
- Bác cứ tự nhiên, dùng được cái gì thì dùng .
Tôi cũng móc ví, lấy hết các giấy bạc loại lớn trong đó, dúi vào tay người công chức già một nắm tiền.
Tôi vỗ nhẹ vai bác :
- Bác giữ lấy để tiêu đi .
Người nhân viên của tôi ngạc nhiên, đưa cả số tiền trả lại :
- Thiếu tá đừng làm vậy !
Tôi nói, thật khẽ :
- Xin bác cứ yên tâm. Lúc nầy, tôi không cần tiền nữa. Nghe lời nói quả quyết của tôi, bác cám ơn rối rít, nhét tiền vào túi quần phía sau và tiễn tôi ra tận xe. Tới lúc đó, tôi mới cho bác biết là rất có thể tôi sẽ rời Sài Gòn vào chiều nay, nếu có chuyến bay đi Mỹ. Vừa nghe tới đó, bác cảm động ôm mặt khóc. Tôi nắm lấy hai vai bác T., an ủi bác; rồi mở máy, chiếc xe từ từ lăn bánh ra khỏi cổng. Người lính gác đưa tay chào tôi, và tôi giơ tay chào lại. Tôi quay nhìn lại cổng doanh trại một lần chót. Tôi thầm nghĩ, chắc hẳn bữa nay là ngày tôi giã từ đời binh nghiệp! Trước mắt tôi, bầu trời như sụp tối, thời gian như ngừng trôi.
Chiến tranh “Ý Thức Hệ” đã gây tang tóc và đổ vỡ cho biết bao gia đình. Một sự mất mát quá lớn lao. Cuộc đời tôi, từ nay, đã rẽ vào một khúc quanh mới, không biết sẽ dẫn đến đâu, mà tôi phải chấp nhận, một chấp nhận quá phũ phàng !
Tôi đã biết rõ chính sách tàn bạo, thâm độc của người Cộng Sản khi họ chiếm làng tôi. Họ đấu tố, đầy ải hàng chục gia đình trung nông đã từng đóng góp tiền của, xương máu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Suốt hơn hai mươi năm thống trị miền Bắc, họ đã bần cùng hóa nhân dân, áp đặt lối cai trị hà khắc làm cho hàng triệu người khốn khổ !
Tôi sẽ phải bỏ nước ra đi, tìm TỰ DO bằng bất cứ giá nào, vì tôi biết tôi không thể nào sống nổi dưới chế độ Cộng Sản được, dù chỉ là một ngày, một giờ.
Vừa về đến nhà, tôi thấy vợ tôi đang chuẩn bị một số áo quần, và vài thứ vật dụng, thuốc men lặt vặt. Ngoài ra, những thứ gì nặng và cồng kềnh, tôi bảo nhà tôi bỏ lại hết. Đến chiều tối, tôi chất hai cái valise và vài túi xách nhỏ lên chiếc xe Austin Minivan. Vợ chồng tôi và các cháu sang chào cha mẹ tôi ở sát bên nhà tôi. Cha mẹ tôi rưng rưng nước mắt, nắm tay tôi cầu nguyện Chúa che chở chúng tôi đi được bình an. Tôi yên tâm ra đi, vì biết anh chị cả tôi có ba người con lập nghiệp tại Hoa Kỳ. Các cháu, và người em ruột của chị dâu tôi đã vui lòng bảo lãnh cho anh chị và cả ông bà nội nữa.
Vợ tôi ngồi bên cạnh, và bốn đứa con tôi ngồi băng dưới. Tôi lái xe ra đi đến chỗ hẹn.
Tối hôm đó, gia đình tôi, gồm vợ chồng tôi và bốn đứa con, nghỉ tạm tại nhà ông anh vợ. Chúng tôi thấp thỏm chờ đợi xe bus tới đón ra phi trường.
Các con tôi mệt, nên ngủ say sau khi tới. Chúng tôi chờ đợi suốt cả đêm, mà chẳng thấy xe bus nào tới đón. Đối với tôi, đêm hôm ấy dài vô cùng. Chúng tôi đứng bật dậy, rộn ràng , hồi hộp khi nghe thấy tiếng còi xe hơi ngoài ngõ, và thở dài não nuột khi bước ra cổng, thấy đó chỉ là một chiếc taxi nào đó.
Cứ xôn xao hy vọng, rồi lại ngỡ ngàng chán nản suốt từ chập tối hôm trước đến sáng sớm hôm sau. Thế mới biết cổ nhân nói câu “ Có thức đêm mới biết đêm dài “ cũng không phải là sáo ngữ! Sáng hôm sau, vẫn chưa có xe tới đón. Ông anh vợ tôi là Đại úy Nguyễn Văn An tòng sự tại Bộ Quốc Phòng bảo chúng tôi cứ về nhà, chờ ở đó, và ông sẽ đích thân dùng xe Jeep đưa chúng tôi tới thẳng cơ quan DAO, tức là văn phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ. Vừa về đến nhà, tôi dẹp quần áo và vật dụng linh tinh ở phòng khách sang một bên, rồi dựa vào chiếc ghế bành, ngủ ngon lành cho đến lúc nghe tiếng nói oang oang của bầy con nít con hàng xóm làm tôi chợt thức giấc :
- Nhà nầy họ đi Mỹ, bà con ơi !
- Lại đây tụi bay, coi mấy người sắp đi Mỹ !
Tiếng ồn ào của bon trẻ con tinh nghịch làm tôi hơi bực mình. Một đứa khác nói chen vào, đầy vẻ khoái trá trước sự đi hụt của chúng tôi :
- Nhà nầy không đi Mỹ đâu, tụi bay ơi ! Họ đi Mỹ Tho đó.
Và cả bọn cùng cất tiếng cười ranh mãnh . Nếu là những ngày thường, có lẽ tôi cũng ra phía trước, yêu cầu bọn chúng đi ra chỗ khác chơi. Nhưng lần này, với mặc cảm của một người toan tính trốn chạy, tôi chỉ dịu giọng nói với mấy đứa trẻ trạc tuổi con mình :
- Các em đi chơi chỗ khác, cho chú nghỉ ngơi một chút nhé !
Nói đoạn, tôi đưa chúng một túi kẹo chanh :
- Các cháu chia nhau ăn đi !
Tụi trẻ đi rồi, tôi đảo mắt nhìn các vật dụng trong nhà, từ bộ bàn ghế tiếp khách mầu gụ chúng tôi mới sắm, chiếc đàn piano hiệu YAMAHA chúng tôi mới mua cho đứa con gái lớn cách đó sáu tháng, khi cháu bắt đầu học tại tư gia của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi ở khu Tân Định. Căn nhà vợ chồng tôi dành dụm bao nhiêu năm mới mua được này, tôi vừa thuê thợ sửa sang cho rộng. Chiếc xe Austin sáu chỗ, tháng trước, tôi đưa làm máy và sơn một lớp sơn mới, chạy thật tốt.
Tôi nghĩ tới sự khó nhọc của hai vợ chồng tôi trong mười hai năm trường mới tạo dựng được chút sản nghiệp khiêm tốn như ngày hôm nay. Bỗng dưng một sớm một chiều, chúng tôi sắp mất hết.
Nghĩ tới đó, tôi bỗng đổi ý, và nói với vợ tôi :
- Em nầy, mới hôm qua, ở tạm nhà anh của em một đêm, không phải nhà mình, mà anh thấm thía câu nói “ Sẩy nhà ra thất nghiệp “ rồi ! Thôi, anh không muốn đi đâu hết. Nhà mình, mình ở. Ra đi, với tương lai vô định, không nhà không cửa. Anh không muốn đi một chút nào nữa !
Vợ tôi ngạc nhiên :
- Anh ơi, anh nghĩ quẩn rồi ! Chiều hôm qua, anh nói với em là anh nhất quyết ra đi vì không sống nổi với Việt Cộng. Bây giờ, chỉ vì xe bus chưa tới đón, anh đã nản lòng , không chịu đi nữa !
Tôi nói :
- Nhưng mà còn nhà cửa, bao nhiêu thứ mà anh và em vất vả xây dựng bấy lâu nay ?
Vợ tôi gào lên :
- Những thứ đó, bỏ lại hết ! Mai mốt mình sẽ xây dựng lại. Còn người, còn của, mà anh?
Tôi cù nhầy :
- Anh Nghiêm, anh Chỉnh, anh An, chú Cảnh, chú Hiền, cũng đều là quân nhân, có ai đi đâu ? Anh ở lại với các anh em của anh. Em có đi, thì dẫn các con đi đi !
Đến lúc nầy, vợ tôi đã mất hết bình tĩnh. Nàng khóc nấc lên, vừa khóc vừa kể lể :
- Anh đã có thời sống gần tụi nó ở ngoài Bắc. Các bác của anh ở lại đã bị tụi nó cắt cổ, đấu tố, đầy đi tù rồi, anh không nhớ sao ? Rồi vụ tết Mậu Thân, chỉ là trung sĩ, cũng bị chúng nó bắt đi, đập đầu hoặc sỏ giây kẽm gai chôn sống tập thể, anh không biết sao ? Huống chi anh là thiếu tá. Tụi nó gặp anh là bắn liền ! Thử hỏi lúc đó, nhà cửa này, của cải dành dụm này, anh có chắc hưởng được không ?
Rồi nàng tiếp, dùng tình cảm thuyết phục tôi :
- Anh cũng phải nghĩ đến tương lai bốn đứa con anh nữa chứ ? Đi ra khỏi nước, dù anh và em không làm nên trò trống gì, con cái mình sẽ có cơ hội tiến thân . Em cũng chẳng biết chúng nó sẽ làm gì, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cơ hội hơn là ở nhà rồi!
Trong lúc tôi ngồi thừ người ra, đầu óc hoang mang, không biết phải nói gì, nghĩ gì, vợ tôi vừa khóc vừa chạy sang nhà cha mẹ tôi ở kế sát bên. Nàng tin rằng chỉ có mẹ tôi khuyên giải tôi mới nghe ra. Đúng như nàng nghĩ, mẹ tôi qua ngay tức khắc. Bà nắm tay tôi, nhẹ nhàng khuyên bảo :
- Con ơi, con nên nghĩ lại. Sáng nay, anh chi Chang sẽ đến đón cha mẹ ra đi. Cha mẹ đã từng ở với bọn chúng rồi. Cha con đã từng bị chúng nó bắt đi, chỉ vì cha con là công chức. Suýt nữa chúng nó đã thủ tiêu cha rồi đó. Giữa năm 54, ông bà ngoại con đã hơn 70 tuổi, mà còn liều chết trốn đi. Vì ở lại là chúng nó sẽ đấu tố, làm nhục cho đến chết !
Bà nhìn vợ tôi, rồi tiếp :
- Con may mắn lắm mới có vợ con đảm đang, xông xáo, lo cho con và các cháu ra đi. Hai anh Nghiêm và anh Chỉnh của con muốn đi lắm, mà không có cơ hội như con. Hai anh đang lo, mà không biết cách nào đi được. Con có cơ hội tốt. Đừng bỏ lỡ cơ hội hiếm có nầy!
Tôi nghe lời mẹ, hứa sẽ đưa gia đình đi. Quyết định của tôi đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của chúng tôi và tương lai các con tôi!
Sáng Chủ Nhật 27 tháng Tư năm 1975, gia đình tôi sửa soạn để đi nhà thờ. Tôi cũng đang ăn dở dang tô phở do chị giúp việc vừa mua về thì anh cả của vợ tôi, Đại úy Nguyễn Văn An, cũng vừa lái xe Jeep tới đậu ngay trước cửa nhà tôi. Anh cho biết chúng tôi chỉ có đúng 10 phút chuẩn bị hành lý. Tôi bỏ đũa, giúp vợ tôi sắp xếp hành lý lần chót. Anh An giúp tôi chất hai chiếc valise lên xe Jeep. Vợ tôi đưa trả tiền công cho chị giúp việc, và tặng thêm cho chị một tháng lương nữa. Tôi đã gọn gàng trong bộ đồ dân sự, vợ tôi và bốn cháu ăn mặc thật giản dị. Cả gia đình tôi ngồi gọn trên chiếc xe Jeep, trực chỉ hướng Tân Sơn Nhất. Anh An nói, anh sẽ đưa chúng tôi tới thẳng cơ quan DAO.
Gần đến nơi, tôi chứng kiến cảnh người di tản chen chúc, giành giật nhau một chỗ đứng sát cổng vào bên trong. Những chiếc xe Mercedes, Peugeot, Ford, Toyota còn mới toanh, không người lái, nằm ngổn ngang dọc theo bờ rào sát phi trường. Anh vợ tôi dừng xe trước một trạm gác. Một trung sĩ quân cảnh Việt Nam và một quân cảnh Mỹ đang làm công việc xét giấy. Người quân cảnh Việt Nam xem sự vụ lệnh công tác và tờ “manifest” do tòa Đại sứ Mỹ cấp, rồi trao cho người quân cảnh Mỹ soát lại lần chót. Sau khi xem xét giấy tờ và nhìn vào trong xe kiểm soát, hai quân cảnh Mỹ Việt giơ tay chào, và ra hiệu cho xe đi.
Thế là chúng tôi đã vào trong cơ quan DAO và trình giấy tờ trong khi các chuyến xe bus của tòa Đại Sứ Hoa Kỳ lần lượt chở các nhân viên và thân nhân tới. Khung cảnh thật là náo nhiệt, tiếng người nói chuyện, bàn tán thật ồn ào. Trên bầu trời, từng đoàn trực thăng bay tới bay lui như những con chuồn chuồn khổng lồ, hết chiếc nầy vừa đáp xuống thì chiếc kia lại bốc lên, có lẽ để đi đón người di tản ở một địa điểm khác. Chúng tôi được chia ra làm từng toán, mỗi toán hai mươi người. Bây giờ chỉ còn việc đợi xe bus tới chở ra máy bay. Trong lúc chờ đợi, tôi đảo mắt nhìn xung quanh, qua hai lớp hàng rào giây kẽm gai bao bọc cơ sở này. Những người di tản tới cơ quan DAO bằng xe taxi đều bị chặn lại ngay tại cổng để kiểm soát giấy tờ.
Một chiếc taxi vừa dừng lại phía ngoài cổng. Trên xe một thanh niên trạc hăm ba tuổi, một phụ nữ trẻ bế đứa bé khoảng hai tuổi, và một cặp vợ chồng lớn tuổi lần lượt bước xuống. Tôi đoán chừng ông bà nầy là cha mẹ của người phụ nữ, và chàng thanh niên là con rể. Chàng thanh niên đưa xấp giấy tờ cho người cảnh sát gác cổng; người này xem qua rồi đưa cho viên trung sĩ quân cảnh đứng cạnh. Người quân cảnh nói gì với chàng thanh niên, và ra hiệu cho anh đứng sang một bên. Người phụ nữ bế con tiến lại phân trần với người quân cảnh, rồi người đàn ông lớn tuổi cũng đến, dường như vừa thuyết phục vừa năn nỉ, nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu từ chối.
Một lát sau, xe quân cảnh đi ngang. Chàng thanh niên bị mời lên xe. Người phụ nữ gào khóc, nắm chặt cánh tay người thanh niên, không cho lên xe. Đứa bé cũng khóc thất thanh, ôm lấy chân anh ta. Thế là một cảnh giằng co xẩy ra, làm huyên náo một góc cổng gác. Người phụ nữ trẻ cố năn nỉ hai quân cảnh Việt Nam tha cho chàng thanh niên. Tiếng gào khóc của chị nghe thật thương tâm!
Tôi để ý nhìn hai quân cảnh Mỹ đứng gần đó. Họ không can thiệp gì cả. Hai trung sĩ quân cảnh trên xe nói gì với người thanh niên. Anh ta thì thầm điều gì đó với người phụ nữ. Chị và đứa bé không gào khóc, níu kéo nữa. Người thanh niên lên xe. Chiếc xe Jeep quân cảnh đi đâu, không ai biết. Tôi chỉ thấy cặp vợ chồng lớn tuổi và người phụ nữ trẻ, cùng đứa bé leo lên một chiếc taxi khác vừa đổ người xuống. Chiếc xe đi ngược về phía cửa ngõ vào thành phố. Tôi chắc gia đình họ trở về nhà.
Tổng thống Trần Văn Hương nhậm chức chỉ có mấy ngày, nhưng ông đã phải đương đầu với cảnh “dầu sôi lửa bỏng “ của đất nước. Trên mặt báo, tôi đọc thấy tân thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn đã ra lệnh cho các viên chức có trách nhiệm phải ngăn chặn mọi thành phần quân cán chính trong hạn tuổi của quân đội, không cho những người nầy xuất ngoại bằng bất cứ phương tiện gì, đường hàng không, đường bộ và kể cả đường biển nữa. Lệnh này được áp dụng triệt để. Báo chí thời đó tường thuật rõ ràng những trường hợp cơ quan công lực bắt giữ một số viên chức trong chính quyền, kể cả quân đội, đang trên đường vượt biên.
Riêng trường hợp người thanh niên bị bắt giữ lại, tôi nghĩ cả người vợ và gia đình bên vợ cũng kẹt ở lại luôn. Tôi không thể quên được tiếng khóc nức nở của người phụ nữ trẻ, khi người chồng bị bắt lại, và xe quân cảnh đưa đi. Tôi nghĩ, các viên chức Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, khi chứng kiến cảnh bắt giữ thương tâm đó, có lẽ cũng bị “mất mặt” phần nào, vì chính phủ Hoa Kỳ đã đồng ý cấp giấy tờ cho cả gia đình người ta đi Mỹ, mà quân cảnh Việt Nam lại có quyền bắt giữ lại? Tôi thấy hai viên chức Hoa Kỳ ở bãi đậu xe, đứng gần chỗ chúng tôi đang chờ đợi, dùng máy liên lạc vô tuyến, gọi đi một chỗ nào đó; có lẽ với giới chức cao cấp Việt Nam và tòa Đại Sứ Hoa Kỳ chăng ?
Bởi vì, khoảng 15 phút sau, tôi không còn thấy quân cảnh và cảnh sát ở ngoài cổng cơ quan DAO nữa.
Tôi nhớ lại những ngày tới Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn, chỉ huy toán tuần tiễu hỗn hợp gồm cảnh sát, quân cảnh, để bắt đào binh và những người trốn quân dịch. Tới giờ cơm trưa, tôi dẫn toán tuần tiễu của tôi vào tiệm phở Tầu Bay đãi mỗi người một tô phở xe lửa và ly cà phê sữa đá. Chúng tôi ngồi ăn uống và nói chuyện vui vẻ trong tình đồng ngũ, coi nhau như những người thân thiết trong đại gia đình quân đội.
Bây giờ, gặp lại mấy người quân cảnh và cảnh sát, cũng trong sắc phục đó, nhưng ở trong hoàn cảnh thật éo le nầy, tôi mặc y phục dân sự, vì đã từ bỏ nhiệm sở để ra đi, còn những anh em đó vẫn còn ở lại, tiếp tục nhiệm vụ của mình, lòng tôi đâm ra e dè, sợ sệt, đầy mặc cảm; nên không còn cái cảm giác thân thiết với những người đã từng cùng ở trong đại gia đình với tôi nữa !
Tôi thực sự cảm thấy không được thoải mái cho lắm khi phải đối diện với họ; mặc dù sau việc xẩy ra hồi sáng và sự can thiệp của nhân viên tòa Đại sứ Mỹ, cảnh sát và quân cảnh Việt Nam chỉ còn nhiệm vụ giữ an ninh trật tự thôi, chứ không bắt giữ hay làm khó dễ những người di tản nữa. Nhìn sang toán kế bên, tôi gặp Trung tá P.
Tôi quen biết ông mỗi lần tôi đi họp ở Tổng Cục Tiếp Vận, Bộ Tổng Tham Mưu. Thấy ông trong y phục dân sự, tôi quen miệng chào ông theo cấp bậc quân đội. Ông ghé sát tai tôi nói nhỏ :
- Thôi “toa” miễn cho “moa” đi.
Tới lúc đó, tôi biết mình lỡ lời, vội vàng nắm tay ông cười giả lả. Có lẽ lúc này, ông cũng mang chung một tâm trạng xấu hổ vì đã trốn chạy khỏi nhiệm sở như tôi, nên không muốn ai nhắc đến cấp bậc của mình.
Khoảng 3 giờ chiều Chủ Nhật 27 tháng 4, một toán xe bus gồm năm chiếc tới đậu ở ngay trước lối vào văn phòng cơ quan DAO. Chúng tôi lần lượt xếp hàng lên xe. Khoảng mười phút sau, đoàn xe hướng về khu vực nơi máy bay C.130 đậu, gần phía cuối phi đạo.
Khi còn cách chỗ máy bay khoảng 40 thước, các xe bus ngừng lại. Người hướng dẫn trên xe yêu cầu chúng tôi xuống, sắp hàng một để đi về phía máy bay.
Tôi nhìn ra phía trước. Bên chiếc máy bay phản lực C.130, đã có sẵn hai người lính quân cảnh Việt Nam đứng chờ, ngay cửa phía sau đuôi máy bay.
Chúng tôi lần lượt bước xuống xe bus, theo đoàn người di tản. Vợ và các con tôi đi trước. Còn tôi, một tay bồng cháu gái út Hồng Bảo, lúc đó mới hơn hai tuổi.
Đi sát phía sau tôi là một đôi vợ chồng trẻ và đứa con nhỏ, cùng trong toán tôi. Người chồng là một kỹ sư điện làm việc cho một cơ quan tiếp liệu Hoa Kỳ. Có lẽ hồi sáng, anh chị nầy đã chứng kiến cảnh người thanh niên bị bắt giữ lại, nên người vợ tỏ ra hết sức lo lắng khi nhìn thấy hai viên quân cảnh Việt Nam to lớn đứng nơi chân máy bay.
Chị quay về phía tôi hỏi nhỏ :
- Anh có biết tại sao quân cảnh Việt Nam vẫn còn ở đó không ? Liệu chồng tôi đang trong lứa tuổi quân dịch có bị bắt lại không, thưa anh?
Tôi đưa mắt nhìn chị đang bồng đứa con gái trạc tuổi đứa con gái út tôi, còn anh thì xách một valise, và trên vai đeo một cái cặp nữa.
Làm ra vẻ thông thạo, tôi trấn an cặp vợ chồng trẻ:
- Theo tôi, nhiệm vụ của hai người quân cảnh này chỉ là canh gác máy bay, đề phòng phá hoại thôi. Giờ phút nầy, họ không còn bắt giữ ai như hồi sáng nữa đâu.
Tôi nói tiếp :
- Chị nên trao cháu nhỏ cho anh bế ! Mình cứ tự nhiên mà đi, đừng để ý gì đến họ. Không sao đâu !
Người vợ trao đứa bé cho chồng, và đỡ hộ anh ta chiếc cặp trên vai. Chúng tôi đi trong toán di tản cuối cùng, và chẳng bao lâu đã tới cửa phía sau của chiếc máy bay C.130. Tôi cố giữ nét mặt bình thản, nhìn về phía trước. Nhưng lúc đi ngang qua hai người quân cảnh, tôi biết chắc chắn họ đang chăm chú nhìn tôi. Chúng tôi vừa bước vào thân tàu, thì anh chồng đi phía sau tôi đặt đứa bé xuống sàn máy bay cho người vợ giữ. Anh lách mình, vượt qua tôi; vội vàng đi thẳng vào phòng vệ sinh, đóng sập cửa lại.
Khi người di tản cuối cùng đã vào hẳn trong máy bay, nhân viên phi hành kiểm soát một lần chót; rồi bấm nút; chiếc cánh cửa vĩ đại phía sau đuôi máy bay từ từ đóng lại.
Chúng tôi ngồi vào chỗ, được hướng dẫn cài dây an toàn, và những gì phải làm khi gặp trường hợp khẩn cấp. Mùi nhiên liệu phi cơ, mùi mồ hôi, mùi kim loại tỏa ra dưới nắng chiều gay gắt làm không khí chờ đợi thật ngột ngạt và căng thẳng. Động cơ chạy mạnh hơn, và chiếc máy bay lăn bánh, tiến dần ra phi đạo. Rồi tiếng máy rú lên, vận tốc tăng nhanh; chiếc C. 130 nhẹ nhàng cất cánh. Vừa lúc đó, người kỹ sư trẻ tuổi cũng từ phòng vệ sinh vội vàng bước ra; mặt anh xanh mét, như không còn hồn vía gì.
Tôi đã đoán biết vì sao anh vào trong đó, nhưng cũng giả vờ hỏi :
- Bộ anh đau bụng lắm hay sao mà ngồi trong nhà vệ sinh lâu quá vậy ?
Anh thật thà trả lời :
- Dạ, em có đau bụng gì đâu! Sáng nay chứng kiến cảnh bắt giữ người thanh niên, đến giờ này em còn sợ; nên phải trốn vào phòng vệ sinh, chờ máy bay cất cánh mới dám đi ra.
Tôi cười nhẹ, thông cảm với nỗi lo sợ của cặp vợ chồng này.
Trạm đầu tiên cho người tỵ nạn xuống là đảo Guam. Chúng tôi được phân phối tạm trú trong những căn lều thật lớn do công binh Mỹ vừa dựng lên, mỗi căn lều có sức chứa cả ngàn người. Buổi sáng hôm sau, tôi lên văn phòng trại ghi danh và điền vài mẫu giấy tờ hành chánh cho việc chuyển trại. Khi đang ngồi chờ ở trước văn phòng, cha mẹ tôi và cháu trai con ông anh cả tôi bước vào. Gặp lại tôi, mẹ mừng lắm, hỏi han ríu rít. Thế là gia đình anh chị cả đã mang được cha mẹ tôi đi cùng, và chỉ đi sau tôi khoảng 4 tiếng đồng hồ, trên một chuyến máy bay khác.
Những ngày sống nơi trại tạm cư ở Guam, ngoài những bữa ăn, gồm toàn món Mỹ, chúng tôi thường đi bộ ra bờ biển Guam hóng mát, nhất là lúc xế trưa.
Buổi tối, ban chỉ huy trại cho chiếu phim giải trí. Một số nghệ sĩ Việt Nam cũng họp nhau lại mỗi buổi chiều, trình diễn giúp vui cho đồng bào tị nạn.
Điều đau buồn nhất đối với chúng tôi, là chiều 30 tháng 4 năm 1975, khi hai đài phát thanh BBC và VOA loan tin Sài Gòn bị thất thủ, và cả miền Nam đã rơi vào tay giặc Cộng. Chúng tôi ai nấy đều ngậm ngùi, xót xa chia sẻ niềm đau đớn của đồng bào ruột thịt, từ nay sẽ sống dưới ách cai trị của bọn Cộng Sản độc tài và bạo tàn.
Tất cả mọi người chúng tôi đều mang chung một tâm trạng đau buồn. Tôi đã chứng kiến những người thiếu phụ trẻ bên nách một đàn con thơ nheo nhóc, họ ngồi bên góc lều trại, hộc lên khóc, tiếng khóc đau đớn, não nề, ai oán kéo dài từng hồi. Những lúc như thế, vợ tôi lại chạy tới, dỗ dành, an ủi họ. Rồi tiếp đến căn lều bên cạnh, như bị xúc động giây chuyền, có người đã bật ra tiếng khóc, nhất là các bà các cô, vốn rất nhạy cảm.
Chung quanh căn lều tạm trú, tôi nghe những tiếng khóc nức nở đầy vẻ căm phẫn. Những người đàn ông biểu lộ nỗi đau thương một cách lặng lẽ hơn. Tôi thấy những khuôn mặt trầm lắng, đanh lai, những đôi mắt đỏ hoe, những giọt nước mắt tủi hờn vừa mới lau khô.
Ai ai đều ngậm ngùi trước cảnh gia đình tan tác, vợ xa chồng; cha mẹ xa con; anh chị em lưu lạc khắp bốn phương trời…Tuy không nói ra, nhưng trong thâm tâm, tôi biết chắc chắn kể từ giờ phút nầy, tôi sẽ phải chấp nhận Hoa Kỳ là quê hương thứ hai.

Vũ Ngọc Bích

Yểm Trợ Liên Lạc
Freespeech4vietnam
2127 Cliff Road, Suite H
Eagan, Minnesota. 55122
email: freespeech4vietnam@gmail.com
612-986-4914 cell
612-567-1719 voice mail
408-634-9703 cell

Tuesday, March 3, 2015

Thông Báo Tài Chánh 28 Tháng 02 Năm 2015

Xin thưa quý Ân Nhân, Đức Hùng cố gắng cập nhật Tài Chánh  hàng tháng, nếu quý Ân Nhân xem danh sách có thiếu xót tên hoặc tài chánh yểm trợ của quý ân nhân, xin vui lòng liên lạc với LĐH qua phone 612-986-4914 hoặc email: freespeech4vietnam@gmail.com , để LĐH kiểm lại, nếu có điều gì thiếu sót mong được sự thông cảm của quý vị,,, LĐH xin thánh thật cám ơn.


Bản Thông Báo Tài Chánh FSP4VN
1
Còn Lại Của Tháng 01/2015
$2,348.80
2
Nhận của Tháng 02/2015
$2,386.54
3
Tổng Cộng Tháng 02/2015
$4,735.34
4
Trừ Ra Chí Phí  Tháng 02/2015
($1,702.34)
5
Tổng Cộng Số Tiền Hiện Tại
$3,033.00